g thấy
đám người từ trong chùa đi ra, trong đó có một cô gái rất xinh đẹp.
Thấy nàng liếc mắt đưa tình, chàng tiến lại bắt chuyện. Hai người
vừa đi vừa chuyện trò vui vẻ. Lòng Tú Uyên như nở hoa. Nhưng khi
sắp đến đình Quảng Văn thì người con gái bỗng biến mất. Tú Uyên
đứng ngẩn ra ít lâu, mãi đến tối mới trở về nhà.
Từ đấy Tú Uyên đêm mơ ngày tưởng không thiết gì ăn uống
hoc hành. Nghe tin đến Bạch Mã rất thiêng, chàng đến xin quẻ thẻ
rồi ngủ đêm lại đền cầu mộng. Đêm ấy, thần hiện ra trong giấc mộng
của chưàng, bảo rằng:
- Này anh chàng mê sắc kia, sáng mai hãy đến cầu Đông, ta sẽ
cho biết một tin rất tốt.
Hôm sau, chàng y hẹn đến cầu Đông. Đợi mãi chẳng thấy ai cả.
Cuối cùng mới gặp một ông già bán tranh, ông đưa tới mời chàng
mua một bức tố nữ trong tranh trông chẳng khác gì người mà mình
mong đợi. Chàng mua ngay đem về treo bên cạnh chỗ ngồi. Đến bữa
ăn, chàng dọn ra hai đôi đũa, hai cái bát mời người trong tranh ăn
cùng như mời người thật. Chàgn hơi ngạc nhiên cảm thấy tố nữ
trong tranh hai má đỏ bừng như có ý thẹn.
Một hôm, Tú Uyên đi học về thì thấy giữa đường đã sẵn sàng
một mâm cơm có thức ăn ngon, khác với cơm rau thường ngày. Tuy
chưa hiểu là của ai cho, nhưng đói bụng, chàng cũng ngồi vào ăn.
Tiếp mấy hôm sau, mâm cơm đều dọn sẵn như thế. Chàng nửa ngờ
nửa mừng, không hiểu ra làm sao.
Hôm khác chàng giả tảng đi học, nửa đường lộn về, nấp ngoài
cửa sổ dòm vào. Chàng thấy Tố nữ từ trong tranh bước ra, dọn dẹp
nhà cửa và xuống bếp làm cơm. Chàng đột ngột xô cửa bước vào, nắm
chặt lấy tay nàng mà rằng:
- Để tôi bấy lâu trông đợi mỏi mòn con mắt! Thôi, bây giờ nhất
định không cho nàng ra khỏi đây đâu!
Nói xong, Tú Uyên giật bức tranh trên tường xé đi.
Người con gái đỏ hai gò má, se sẽ đáp lại:
- Sao chàng ác thế! Thiếp đã lạc vào nhà chàng rồi, đâu dám
không vâng lời.
Rồi nàng cho biết tên mình là Giáng Kiều, vốn có duyên nợ với
chàng nên được xuống trần cùng kết làm đôi lứa. Tú Uyên tưởng
không có gì sung sướng hơn thế nữa. Chàng giơ tay lên thề bồi. Hai
người chuyện trò hồi lâu. Tú Uyên giục nàng thành thân. Giáng Kiều
bảo:
- Để thiếp bày tiệc mời các bạn tiên đến chứng kiến cho lễ cưới
của đôi ta.
Nói xong nàng rút trâm trên đầu hoá phép thành một nơi màn
gấm rèm ngọc, kẻ hầu người hạ rầm rập, đồ ăn thức đựng lộng lẫy.
Chỉ một lát cỗ bàn bày ra, đàn sáo vang lừng, các bạn tiên lần lượt
đến ăn uống trò chuyện, ca hát nhảy múa rất là vui vẻ.
Nhưng từ ngày vợ đẹp, Tú Uyên không buồn giở đến sách nữa.
Suốt ngày chàng bên vợ và đặc biệt là một điều là chàng thích uống
rượu và ăn ngon. Giáng Kiều khuyên can mãi, nhưng Tú Uyên chứng
nào vẫn giữ tật ấy. Ba năm trôi qua, chàng không lai vãng đến nhà
học. Dần dà, chàng trở nên nghiện rượu, đã uống thì uống đến say,
không còn biết trời đất gì nữa, thậm chí nhiều lần chửi mắng vợ.
Giáng Kiều giận lắm. Một hôm chồng từ tửu quán khật khưỡng
bước về, nàng vực vào giường rồi nhân chồng ngủ thiếp đi, nàng liền
bay về trời.
Tỉnh rượu, Tú Uyên không thấy vợ, rất lấy làm hối hận. Suốt
một tháng, chàng bỏ ăn bỏ ngủ kêu khóc thảm thiết. Bạn bè hết lời
khuyên dỗ nhưng chàng không sao giảm được u sầu. Giận thân,
chàng chỉ muốn tự vẫn đời cho xong. Nhưng khăn vừa vắt lên xà nhà
thì bỗng có trận gió thoảng đưa mùi hương đến: Giáng Kiều đã hiện
ra trước mặt.
Chàng vừa mừng vừa thẹn, thề xin chừa hẳn rượu. Hai vợ
chồng lại vui vẻ như xưa. Chẳng bao lâu Giáng Kiều sinh được một
người con trai. Đứa bé lớn lên rất thông minh, học ngày một giỏi.
Một đêm nọ, bỗng có hai con hạc đón ở sân. Hai vợ chồng dặn
con ở lại, rồi cưỡi lên trời.


BÓ ĐŨA
Ngày xưa, có một người nhà giàu, sinh được năm người con. Vì
được nuông chiều họ sinh ra lời biếng và ỷ lại. Khi đưã trưởng thành,
mỗi người đều có một cơ ngơi, nhưng luôn ghanh tị lẫn nhau vì
những của cải mà cha mẹ cho. Người chưa cố gắng đề khuyên can họ
nhưng vô ích, vì vậy ông rất đau lòng.
ít lâu sau, người chưa bị bệnh nặng, biết mình không qua khỏi,
một hôm ông gọi năm người con đến và bảo gia nhân đem ra một bó
đũa. Năm người con ngơ ngác không hiểu người chưa có ý định gì,
ông cầm lấy bó đũa và nói bảo từng người hãy bẻ đi, người con nào
cũng gắng hết sức mình nhưng không sao bẻ nổi, lúc đó ngườii chưa
lại bảo "các con hãy bẻ từng chiếc một xem sao", lập tức năm người
con bẻ một cách dễ dàng. Lúc đó người chưa mới nói:
- Các con ạ, bó đũa ví như năm anh em các con đó, nếu mỗi
người các con đều chung tay gánh vác mỗi người một việc thì không
kẻ thù nào làm các con gục ngã, còn nếu các con chỉ biết đến bản
thân mình thì sẽ sẽ trở nên lẻ loi và bị thất bại trong cuộc đời. Nếu
các con đoàn kết và thương yêu lẫn nhau thì chưa mới có thể yên tâm
mà nhắm mắt.
Nghe xong, năm anh em mới hiểu lời người chưa dạy, họ rất hối
hận với những việc đã làm. Từ đó họ sống hoà thuận và đoàn kết,
thương yêu lẫn nhau.


BỢM GIÀ MẮC BẪY CÒ KE
Ngày ấy chợ Xuân là một nơi đô hội lớn của trấn Hải Dương.
Vào khoảng ngày phiên, khách buôn bán, người qua lại đông nghìn
nghịt.
ở gần chợ, có một tay đại bợm sống về nghề ăn sương đã hơn
mười năm. Hắn rất tài, mưu mẹo trăm khoanh; khi đã có ý định lấy
của ai thì dầu giữ gìn thế nào hắn cũng cuỗm được. Một hôm, có một
khách đến trọ ở một quán nhỏ trong chợ. Thấy tay nải nặng, hắn
theo dõi khách từ lâu, chủ quán bảo khách:
- ở đây kẻ trộm như rươi. Tôi đã có sẵn một cái hòm lớn để khác
trọ ai có đồ đạc gì thì gửi vào đây khoá chặt lại rồi nằm lên trên. Vậy
ông cứ đưa tay nải để chúng tôi cất vào hòm cho.
Người khách cười, trả lời:
- Tôi có của sao lại không giữ được hay sao? Không phải phiền
ông làm gì.
Nói xong, ông ta giở tay nải ra kiểm điểm tiền nong rồi để ở đầu
giường, gối đầu lên mà ngủ. Lưúc ấy bợm ta lảng vảng ở ngoài, dòm
vào, thấy khách lạ lắm của, quyết định thế nào cũng làm một mẻ.
Nửa đêm hôm ấy, đợi cho mọi người ngủ say, hắn khoét gạch chui
vào, chui xuống gầm giường. Ban đầu hắn làm y như tiếng mèo bắt
chuột. Dần dần hắn làm những tiếng sột soạt ở bên cạnh chỗ khách
nằm như kiểu mèo vồ chuột. Thỉnh thoảng hắn lại cào cào mấy cái
vào chân khách. Khách bỗng tỉnh dậy co chân đạp và lớn tiếng mắng
mèo. Đến đây hắn làm y như tiếng mèo bỏ chạy đi mất.
Chờ cho khách chợp ngủ đi, hắn giả làm mèo đến cào cào vào
chân như trước. Lần này ông khách tỉnh dậy, tức quá ngồi lên rình
bắt mèo. Nhưng lúc đó hắn đã lẻn lại đầu giường vớ lấy tay nải ra đi
êm như ru. Người kia đợi mèo một lúc không thấy lại nằm xuống
toan nối lại giấc ngủ, nhưng khi đã ngả đầu xuống gối mới biết là
mất tay nải, liền đánh thức chủ quán hô hoán mất trộm.
Chủ quán thắp đèn lên và trách:
- Đấy, ông không nghe lời tôi nữa thôi.
Khách đáp:
- Khá khen hắn có tài nghệ. Nhưng ông cứ để mặc tôi tự tìm
của đã mất, đừng trình báo lôi thôi.
Đoạn ngước mắt lên xà nhà thấy có một cái lờ bắt cá gác trên
đó, ông ta bảo chủ quán
- Phiền ông cho mượn cái này một lát, tôi sẽ kiếm cách đi lấy
tay nải của tôi về:
Nói đoạn ông ta cầm lờ ra cửa thấy một cây cao bèn trèo lên
ngọn trông ngóng. Nghe tiếng chó sủa râm ra khắp xóm phía bắc,
khách tụt xuống hướng theo tiếng chó sủa đi tìm. Đi mãi ra khỏi chợ
quanh co hồi lâu thấy một ngôi nhà đưang còn thắp đèn, ông đoán là
nhà tên trộm, bèn chui qua giậu mà vào, rồi mở rộng cổng ra. Dòm
qua khe cửa quả thấy bợm ta đang giở tay nải của mình ra khoe vơ.
Giữa lúc hai vợ chồng đang thích thú mân mê những thỏi bạc trắng
tinh thì ông đứng ngoài sẽ cười lên một tiếng.
Bợm ta ngạc nhiên, ngước mắt hỏi:
- Đứa nào ngoài ấy?
Đáp:
- Đàn em nghe tin anh đêm nay được cái bổng to nên đến xin
chia một ít.
- à! Thằng nào đấy, mày định đến trêu ông phải không?
Nói xong, bảo vợ cất bọc đi, rồi vác gậy ra toan tìm đánh. Ông
khách giả bỏ chạy nhưng sau đó lại núp vào bụi.
Bợm ta chạy ra đến cổng, thấy cửa mở rộng bèn cứ thẳng đường
đuổi mãi. Người khách từ bụi lén vào nhà lấy cái lờ úp vào đầu người
đàn bà rồi phá hòm của nó, lấy lại tay nải. Đoạn, ông cứ theo đường
bờ ruộng lần về đến quê quán.
Sáng hôm sau, ông khách đang ngồi chải đầu bỗng thấy bợm ta
đội đến một mâm xôi và một con gà luộc, gặp ông ta hắn sụp lậy và
nói:
- Tôi theo nghề này đã hơn mời năm nay, thường tự nghĩ tài
nghệ của mình như thế này đã là rất mực, không ngờ ngoài ngọn núi
này còn có ngọn khác cao hơn. Vậy tôi có chút lễ mọn xin làm học trò
ngài.
Ông khách vui vẻ trả lời:
- Tôi cũng chơi cái nghề này từ hồi còn nhỏ nhưng vì thấy
không có hậu nên giải nghệ đã lâu. Vì hôm qua anh đến lấy của tôi
nên bất đắc dĩ tôi phải đem nghề mọn ra đối phó. Học làm gì nghề ấy.
Hiện nay ngoài biên có giặc, anh nên cùng tôi ra đầu quân giúp nước
thì hơn.
Nghe nói bợm ta tỉnh ngộ, vui vẻ theo ông khách ra đi.


BỐN ANH TÀI
Ngày xưa có hai vợ chồng nhà nghèo không con. Hai vợ chồng
khấn vái hết đền này đến chùa khác, mãi sau mới sinh được một
mụn con trai. Thằng bé lớn lên như thổi. Nhưng càng lớn, hắn càng
ăn rất tợn: bung kia, chảo nọ nấu lên bao nhiêu cũng vợi. Hai vợ
chồng cố sức làm lưụng để nuôi con nhưng nuôi không nổi. Trong nhà
có vật gì đáng tiền, họ đều bán sạch để cho con chèn dạ dày. Sau rồi
hai vợ chồng nghĩ chỉ có cách cho con đi tha phương cầu thực mới đỡ
khốn vì nó. Một hôm, người chưa gọi con lại, bảo rằng:
- Nay con đã khôn lớn mà chưa mẹ gần đất xưa trời, yếu đuối
không làm gì được để nuôi con. Ngày xưa lúc nhà ta còn khá giả, có
hoàng đế Trung Quốc vay vàng và bạc đến 70 vạn lạng. Bây giờ con
tìm cách sang bên đó đòi lấy mà ăn.
Nghe nói, người con vâng lời đi ngay. Chưàng cứ dọc bờ biển đi
lần về phương Bắc. Một hôm, đến một xứ kia, bỗng gặp một người
khổng lồ đang tát biển, anh chàng tiến lại hỏi:
- Anh làm gì đấy?
Khổng lồ đáp:
- Tôi tát cạn biển, để tìm vàng ngọc dưới đó.
- Sức lực một mình làm sao mà tát cạn được.
- Ta có sức khoẻ không ai bì kịp. Anh cứ thử lại xách gàu của ta
xem.
Nhưng khổng lồ lấy làm lạ vì hắn cũng nhấc nổi cái gàu của
mình, bèn mời về nhà kết nghĩa anh em. Anh chàng bèn rủ:
- Anh hãy đi theo tôi đòi nợ vua Trung Quốc lấy tiền ăn tiêu
ngay, còn như